CON CHÓ TRONG VĂN HÓA VIỆT

It looks lượt thích your browser does not have sầu JavaScript enabled. Please turn on JavaScript & try again.

Bạn đang xem: Con chó trong văn hóa việt


*

*

It looks like your browser does not have sầu JavaScript enabled. Please turn on JavaScript and try again.
Trong số các giống vật nuôi của nhỏ người, bé chó có mặt từ rất sớm. Di cốt của chúng đã được tìm thấy ở nhiều di chỉ khảo cổ học trên thế giới, có niên đại từ thời đại đồ đá giữa cách ni hàng chục vạn năm. Dựa vào các đặc điểm hình thái, giải phẫu của sọ và răng chó, các nhà khảo cổ khẳng định chó nhà có nguồn gốc từ chó rừng và chắc nịch hơn một vạn năm trmong, vào thời đại đồ đá mới, chó đã được con người thuần dưỡng.
Page Content

          Ở Việt Nam vào các di chỉ khảo cổ Đồng Đậu (Vĩnh Phúc), Tràng Kênh (Hải Phòng) đã phát hiện được sọ và răng chó nhà (canis familiaris). Theo một số nhà nghiên cứu, Chó nhà ở Việt Nam và Đông Nam Á bắt nguồn từ giống chó bên trên đảo Phú Quốc (Kiên Giang) có thân hình khá lớn, chân khá cao.

          Chó là nhỏ vật có những đặc điểm quý: tinh khôn, nkhô cứng nhẹn, dễ nuôi (nuôi chó không phải nấu thêm cơm), trung thành với chủ... Do đó con người nuôi chó để dùng vào các công việc sự so sánh. Chó giúp người canh nhà. Chó cùng người đi săn thú rừng. Chó hộ vệ con người. Vào thế kỷ trmong, nhỏ chó Lai ca đã góp phần vào công cuộc chinc phục vũ trụ vì mục đích hạnh phúc. Ngành công an sử dụng chó để truy tìm dấu vết tội phạm. Chó còn dùng làm vật thí nghiệm trong y học...

          Chó gần gũi với đời sống con người. Người ta nuôi chó trong nhà trong lúc trâu, bò, lợn, gà phải làm chuồng riêng rẽ. Bcầu vào đời sống nhân loại, chó phát triển nkhô giòn cchờ cả về số lượng và chủng loại. Ở nmong ta có nhiều như là chó, mỗi địa phương có một nòi chó: Chó snạp năng lượng, chó nhà, chó Đen, chó vằn, chó vện, chó vàng,... rồi những giống chó nhập nội nhỏng Bécgiê (Đức), chó Nhật...

Xem thêm: Tư Vấn Cách Làm Bể Cá Cảnh Đẹp + Đơn Giản Từ A Đến Z, Làm Bể Cá Cảnh Cần Những Gì

          Hình hình họa bé chó in dấu đậm nét vào vnạp năng lượng hóa cổ truyền Việt Nam. Tiếng cho sủa, cùng với tiếng gà gáy là âm tkhô hanh quen thuộc của nông buôn bản ta. Thịt chó ngon và có hương thơm vị riêng biệt không thể thiếu vào văn hóa ẩm thực "Thịt chó nấu riềng", "Sống ở đời nạp năng lượng miếng dồi chó", nổi tiếng có nhiều món "giả cầy" phỏng theo cách chế biến thịt chó, mỗi địa pmùi hương có nét riêng rẽ.

          Con chó liên quan đến tín ngưỡng của người Việt cổ. Ở di chỉ Tràng Kênh đã tìm thấy răng chó có lỗ xỏ dây đeo, tương tự như một loại bùa, ở một số mộ táng có tượng chó chôn cùng di cốt của người. Tượng chó bằng đá ngày ấy hiện diện ở nhiều làng xã như một vật linch. Trên trống đồng và một số đồ đồng khác của vnạp năng lượng hóa Đông Sơn có khắc nhiều hình ảnh nhỏ chó ở những tư thế và trạng thái sự so sánh. Ở rìu đồng Việt Trì (Phú Thọ) mô tả con chó lao về phía nhị nhỏ hươu rừng, bốn chân choãi thẳng về phía sau làm hai con mồi chững lại. Trên rìu Quốc Oai (Hà Nội) con chó và nhỏ mồi trong tư thế giữ miếng, chuẩn bị giao đấu. Ở một khúc đồng có tượng một nhỏ chó snạp năng lượng cổ cao, mõm dài, nanh nhọn, chân trmong duỗi thẳng, chân sau co lại nhỏng sẽ đem đà xông vào địch thủ. Trong đợt knhì quật di chỉ Dốc chùa (Bình Dương) người ta tìm thấy một tượng chó snạp năng lượng dẫm lên bé chồn dơi với vẻ đắc thắng, cổ dướn cao, đuôi vểnh lên, mõm dài, bốn chân vững chãi ghì chặt bé mồi. Trên một trống đồng Đông Sơn bé chó được khắc họa với mình tròn thân ngắn, lông xù sẽ theo dõi động tĩnh ở phía trmong, có dáng dấp một nhỏ chó giữ nhà. Đặc biệt bên trên nhiều trống đồng Đông Sơn, trong đó có trống đồng Ngọc Lũ có hình ảnh nhỏ chó chân cao, mõm ngắn, mắt dõi phía xa canh chừng, mặt cạnh hình người chiến binh hóa trang cầm giáo bên trên chuyến hành trình đầy nguy hiểm ngoài biển khơi. Hình tượng bé chó với nhiều dạng vẻ sống động như thế đến thấy sự hiểu biết sâu sắc của người xưa về con vật này và vai trò quan liêu trọng của nó trong đời sống con người. Con chó rất gần gũi với dân chúng lao động, mà lại cũng ko đến nỗi quá xa lạ với các triều đại phong kiến nmong ta, bằng chứng là ở lăng vua Trần Hiển Tông (1329-1340) thuộc khu vực Ao Bèo (An Sinch, Quảng Ninh) có tượng nhỏ chó nằm bằng đá toát lên vẻ uy nghi. Một số nhỏ rùa đội bia niên đại cuối thời Hậu Lê ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) phảng phất dáng dấp của bé chó.

          Trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ thích hợp và văn uống hóa dân gian  nói tầm thường, so với các gia súc khác, con chó được nói đến nhiều hơn cả. Hình hình họa khác nhau, tổng quan cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Mượn bé chó, quần chúng ta nói lên quan tiền niệm về vũ trụ, nhân sinch, đúc kết tởm nghiệm làm ra, chăn uống nuôi, cách ứng xử vào gia đình, ngoài xã hội, thể hiện những tình cảm yêu thương ghét, bất bình... Người nông dân xưa nhắc nhở nhau: Trông trời, trông đất, trông mây và lúc thấy bên trên nền trời xuất hiện những đám mây, màu mỡ chó thì liệu mà thu xếp việc cửa nhà, đồng áng, bởi vì "Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa". Còn về chọn tương đương gia súc, quần chúng lao động cũng đã rút ra nhiều khiếp nghiệm quý, cụ thể là việc chọn như thể chó, thì cần chú ý:

"Chó khôn tứ túc huyền đề

Tai thì khá cụp, đuôi thì khá cong

Giống nào mõm nhọn, đít vồng

Ăn càn, cắn bậy, ấy ko ra gì"

          Lối nói độc đáo, ví von của quần chúng lao động là tốt vận dụng thành ngữ đó là những câu cô đọng có nghĩa bóng về việc đời, về xã hội. Người ta nhắc nhau: "Chó treo, mèo đậy" hàm ý vào cuộc đời phải tùy hoàn cảnh  mà xử thế. Phê phán những kẻ tmê mệt lam, ti tiện, thành ngữ có "nạp năng lượng chó cả lông". Những kẻ liều lĩnh, bạt mạng, ko đếm xỉa gì đến lẽ phải, giống nlỗi "chó cùng đứt giậu". Kẻ phản ứng lung tung, mất pmùi hương hướng, khác gì "chó cắn càn". Trong quan tiền hệ giữa người với người, cần giữ làm sao cho đúng mực, chọn người dùng mà chơi, kẻo lại hối tiếc "đùa với chó, chó liếm mặt". Thói móc máy, cạnh khóe "chửi mèo quèo chó" chẳng ai là ko khó chịu. Tính cách, lời nói "cấm cẳn như chó cắn ma" ám chỉ những người tính khí bất thường, nhũng nhẽo. Có những người anh hùng theo kiểu "chó cậy gần nhà". Đối với những người chủ gia đình cần ghi nhớ: "chó gầy hổ mặt người nuôi" mà liệu đối xử với nhỏ cái, giữ gìn gia phong. Người ta còn mượn hình hình ảnh nhỏ chó để rút ra bài học ở đời. Truyện ngụ ngôn "Người đi đường và bé chó" nói về thái độ đối với nhỏ chó của nhị người, một người thì dọa đánh chó, còn người tê thì cứ thản nhiên đi làm nhỏ chó phải sợ. Truyện rút ra ý nghĩa: Sự dự tợn đâu phải có thần lực thực sự. Truyện "thả mồi bắt bóng" kể về nhỏ chó vì tđắm say cái bóng mà nó tưởng là miếng mồi, khuyên ổn người ta chớ có ảo tưởng vào điều gì không có thật.

          Trong xã hội xưa đầy rẫy những bất công, hình hình họa nhỏ chó cũng tsi gia vào cuộc đấu trỡ của dân chúng lao động. Cùng một hiện tượng bán, người dân lao động mượn bé chó để nói lên hai tình trạng đối lập: "Giàu bán chó, khó bán con" qua đó lên án xã hội coi mạng người như con chó. Bọn người trục lợi, đểu giả luôn tìm cách bòn rút, ko tha cả những người khốn cùng, như là nhỏng "chó cắn áo rách" làm mang lại họ càng thêm cơ cực "đã khó, chó cắn thêm". Cái xã hội ấy thường diễn ra cái chình ảnh "chướng tai sợi mắt".

"Con mèo xán bể nồi rang

Con chó chạy lại mà với rước đòn"

          Nhân dân ta rất ghét những kẻ lòe bịp, bọn thày cúng, thày bói dốt nát, mượn màu thần linc, ma quỷ để thỏa lòng lòng tsi, hình hình ảnh nhỏ chó đã được sử dụng để vả vào miệng chúng:

"Nhất hào

Nhị hào

Tam hào

Chó chạy bờ ao

Chuột chạy bờ rào

Quẻ này có động

Nhà này có quái trong nhà

Có nhỏ chó đực ra cắn đằng mồm

Nhà bà có con chó đen

Người lạ nó cắn, người thân quen nó mừng"

          Còn bọn sư hổ mang, "ngụy tu" khoác áo nhà Phật tuy thế lòng đầy dục vọng, tầm thường:

"Đi tu Phật bắt an chay

Thịt chó nạp năng lượng được, thịt cầy thì không"

          Cả khi gõ mõ, đọc tởm cũng chỉ là giả dối:

"Nam mô một bồ dao găm

Một trăm con chó

Một lọ mắm tôm"

          Từ xã hội trở về gia đình - thực thể hàm chứa những mối quan lại hệ in đậm dấu ấn lịch sử, hình ảnh nhỏ chó được vận dụng để nói lên chổ chính giữa trạng, tình cảm của các thành viên: Mẹ âu yếm gọi nhỏ "cún bé của mẹ"; đây là lời mẹ chồng: "Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng", lời than thở về thân phận làm dâu vất vả:

"Có đêm thức suốt năm canh

Rau heo, cháo chó loanh xung quanh đủ trò"

          Từ thiên nhiên hoang dã bé chó đã bcầu vào cuộc sống của người Việt cổ, rồi in đậm hình hình họa trong vnạp năng lượng hóa Việt  Nam./.