Các Công Cụ Nhân Học Văn Hóa, Nhân Học: Khoa Học Nghiên Cứu Về Con Người

*

*

*

Nhân học: Khoa học nghiên cứu về con người

Nhân học là một lĩnh vực nhận thức khoa học, trong đó nghiên cứu các vấn đề nền tảng của tồn tại con người trong môi trường tự nhiên và nghệ thuật. Trong khoa học hiện đại có nhiều cách hệ thống hóa khác nhau các bộ môn của nhân học.

Đang xem: Công cụ nhân học văn hóa

A.A. Belik

Nhân học là một lĩnh vực nhận thức khoa học, trong đó nghiên cứucác vấn đề nền tảng của tồn tại con người trong môi trường tự nhiên và nghệthuật. Trong khoa học hiện đại có nhiều cách hệ thống hóa khác nhau các bộ môncủa nhân học. Về cơ bản nhân học bao gồm: khảo cổ học, dân tộc chí, dân tộchọc, văn học dân gian, ngôn ngữ học, nhân học hình thể và nhân học xã hội. Tậphợp các bộ môn nhân học này dần dần được mở rộng, trong đó có thêm nhân học yhọc (tâm lý học con người, di truyền học), sinh thái học con người .v.v…

Cũng có quan điểm cho rằng nhân học, với tư cách một ngành nghiêncứu khoa học, là sự kết hợp giữa nhân học thuần túy, hay là lịch sử tự nhiêncủa con người (bao gồm phôi thai học, sinh vật học, cơ thể học, tâm sinh lý họccon người) với: cổ tự học, hay là tiền lịch sử; dân tộc học (khoa học về sựphát tán của loài người trên trái đất, hành vi và các phong tục của họ); xã hộihọc (khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với nhau); ngôn ngữ học;thần thọai học; địa lý học xã hội (nghiên cứu tác động của khí hậu và môitrường tự nhiên đến con người); nhân khẩu học (đưa ra số liệu thống kê về thànhphần và sự phân bố các cộng đồng dân số). Từ các cách hệ thống hóa trên có thểthấy rõ một cách luận giải mở rộng về nhân học, khi nó bao gồm cả các khoa họcxã hội và các khoa học nhân văn. Ngoài ra, các thuật ngữ dân tộc chí (xuất hiệnở Đức vào thế kỷ XIX), dân tộc học (sử dụng ở Pháp) và nhân học (thuật ngữ khoahọc trong khối các nước nói tiếng Anh) cũng thường được dùng để biểu thị ngànhkhoa học về con người và về văn hóa của nó.

Dựa trên sự phân định ranh giới giữa các trường phái nghiên cứu,có thể đưa ra cách hệ thống hóa nhân học như sau.

Nhân học triết học tập trung chú ý đến việc nghiên cứu các vấn đềcủa tồn tại con người trong thế giới tổng thể, tìm lời đáp cho câu hỏi về bảnchất của con người. Nhân học triết học xuất hiện như sự tiếp tục hợp quy luậtcủa việc tìm kiếm các giải pháp về vấn đề con người trong triết học phương Tây,như một trong các phương án giải quyết nó. “Con người là gì?” – vấn đề do Kantđặt ra, sau đó được Scheler phát triển, cho rằng tất cả các vấn đề trung tâmcủa triết học có thể quy về câu hỏi: con người là gì và vị trí siêu hình của nónhư thế nào trong tổng thể chung của tồn tại, của thế giới và của tạo hóa. Khixem xét văn hóa như là sự nhân văn hóa tự nhiên, Scheler nhìn nhiệm vụ của Nhânhọc triết học, do ông tạo dựng, là ở chỗ làm sao chỉ ra chính xác rằng mọithành tựu và công việc đặc thù của con người – ngôn ngữ, lương tâm, công cụ, vũkhí, nhà nước, sự lãnh đạo, các chức năng tạo hình của nghệ thuật, huyền thọai,các ngành nghề, khoa học, lịch sử, xã hội v.v… – đều bắt nguồn từ cấu trúcchủ yếu của tồn tại con người. Các vấn đề nhân học triết học được Gelen, E.Rotkhaker, M. Landman, Plessner và nhiều người khác phát triển tiếp.

Nhân học thần học nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con ngườivới thế giới siêu thực, thế giới thần thánh. Đối với hướng nghiên cứu đó, điềuquan trọng là định vị con người thông qua lăng kính của tư tưởng tôn giáo. Nhânhọc thần học là một trong những khuynh hướng của chủ nghĩa hiện đại trong tôngiáo đương đại, trong đó các nhà tư tưởng tôn giáo đặt ra vấn đề bản chất củacon người như một tạo vật hai mặt về bản tính của mình, xem xét các vấn đề tồntại con người trong thế giới hiện đại, các quá trình bi kịch trong sự pháttriển thiếu vắng tinh thần, xuất phát từ các nguyên tắc nền tảng của học thuyếtKi tô giáo. Anh em nhà thần học Tin Lành Niebuhr, Tillich, nhà triết học DoThái giáo Buber, các nhà nhân học Thiên Chúa giáo Teilhard de Chardin, K.Raner, các nhà thần học Chính giáo, đặc biệt là Phlorenski, A.S. Pozov… làdanh sách còn xa mới đầy đủ các nhà tư tưởng tôn giáo đại diện cho các trườngphái khác nhau trong Nhân học thần học. Khi nhấn mạnh ý nghĩa ngày càng lớn củaNhân học thần học trong hoàn cảnh hiện đại, những người bênh vực nó nhìn thấysự khác biệt giữa cách tiếp cận triết học và cách tiếp cận thần học đối với conngười ở chỗ thần học (cũng giống như triết học) quan tâm tìm kiếm lời giải đáp chocâu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống, nhưng trong việc này thần học đòi hỏi kinhnghiệm của đức tin và, gắn liền với nó, là kinh nghiệm của cứu rỗi. Nhân họcthần học, vì vậy, thường tiếp thu một cách phê phán các thành tựu của tri thứctriết học và khoa học tự nhiên về con người. Nó có đặc tính mở trước các khoahọc khác về con người, nhưng các khoa học kia, cuối cùng, cũng phải mở trướcthước đo cao hơn – đó là sự cứu rỗi.

Nhân học văn hóa là lĩnh vực nghiên cứu khoa học đặc biệt, tậptrung chú ý đến quá trình tác động qua lại giữa con người và văn hóa. Lĩnh vựcnhận thức này hình thành trong văn hóa châu Âu vào thế kỷ XIX, và định hìnhxong vào nửa cuối thế kỷ XIX. Trong giới nghiên cứu nước ngoài có các quan điểmkhác nhau đối với việc xác định trường đối tượng của bộ môn khoa học này. Kháiniệm Nhân học văn hóa thường được sử dụng để biểu thị một ngành tương đối hẹpnghiên cứu các phong tục của con người, nghĩa là các nghiên cứu so sánh văn hóavà cộng đồng, là khoa học về con người nhằm khái quát hóa tư cách, hành vi củacon người và khả năng hiểu được đầy đủ nhất sự đa dạng của loài người v.v…Nhân học văn hóa tập trung chú ý đến các vấn đề khởi nguyên của con người, vớitư cách vừa là người sáng tạo vừa là tạo phẩm của văn hóa ở phương diện di truyềnngữ văn học và di truyền bản thể học.

Những vấn đề chủ yếu của nghiên cứu Nhân học văn hóa gắn liền vớiviệc hình thành con người như một hiện tượng văn hóa đặc biệt: sự văn hóa hóacác bản năng cơ bản của con người; sự xuất hiện thể tạng đặc biệt của loàingười, kết cấu cơ thể con người trong mối liên quan với môi trường văn hóa;cách ứng xử của con người, sự hình thành các chuẩn mực, các cấm đoán và kiêngkị trong quá trình con người hòa nhập vào hệ thống các quan hệ văn hóa xã hội;ảnh hưởng của văn hóa đến cuộc sống giới tính, gia đình và hôn nhân; tình yêunhư là một hiện tượng văn hóa đặc biệt; sự hình thành thế giới quan và nhânsinh quan của con người; thần thọai học như một hiện tượng .v.v… Không kémphần quan trọng trong giai đọan hiện đại là những vấn đề sinh thái học conngười và sinh thái học văn hóa, chúng nghiên cứu những quy luật họat động củacác hệ thống văn hóa sinh thái, bởi vì sự hình thành con người với tư cách giámang văn hóa không thể không bao hàm cả việc đánh giá vị trí và vai trò của nótrong việc bảo vệ thiên nhiên và văn hóa trong thời hiện đại.

Có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành chương trình nghiên cứu lýluận về con người và văn hóa là các công trình của TylorVăn hóa nguyên thủy,Dẫn luận vào nghiên cứu con người và văn minh, Đời sống tiền sử của loài ngườivà khởi đầu của văn minh,v.v… Trong các công trình ấy ông đứng từ góc độcủa thuyết tiến hóa đưa ra cách lý giải nhân học về văn hóa, qua đó mở đầu chocác nghiên cứu nhân học văn hóa. Phát triển tiếp theo dòng chảy của chủ nghĩatiến hóa là các nghiên cứu của F. Frazer, G. Mak-Lennan, G. Lebbok, Iu. Lippertvà các học giả Nga K.D. Kavelin, M.M. Kovalevski, M.I. Kuliser, N.N.Miklukho-Maklai, D. N. Anuchin, V. G. Bogoraz (Tan) .v.v… Giai đọan pháttriển đó của Nhân học văn hóa được gọi là giai đọan tiến hóa (1860-1895). Nhà nghiêncứu Mỹ G. Stoking cho rằng trước giai đọan tiến hóa là giai đọan dân tộc học(1800-1860).

Xem thêm: Câu Hỏi Trắc Nghiệm Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam Pdf, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam

Giai đọan tiếp theo của Nhân học văn hóa gắn liền với họat độngcủa nhà bác học Mỹ Boas và có tên gọi là giai đọan lịch sử (1895-1925). Boasđứng ra phê phán chủ nghĩa thực chứng. Thuyết hoài nghi phương pháp luận củaông có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà nghiên cứu: một số trong họ bắt đầu khước từcác khuôn mẫu của nhận thức khoa học tự nhiên (“chủ nghĩa thất bại khoa học”của P. Radin và những người khác) và quay sang phương pháp mô tả kinh nghiệm vàđiền tờ khai của tương đối luận và chủ nghĩa kinh nghiệm (Herkovits). Vào nhữngnăm 20-30 của thế kỷ XX ở Mỹ xuất hiện Nhân học tâm lý, lúc đầu là tên gọi chokhuynh hướng “văn hóa và cá nhân”. Nó có được sự nổi tiếng rộng rãi nhờ cáccuốn sách của M. Mid, Benedikt, I. Hallouel, G. Dollard, G. Whiting. I. Chaild,G. Honingman, E. Huyz. Mục đích chính của nó là nghiên cứu xem cá nhân hànhđộng, nhận thức và cảm nhận như thế nào trong các điều kiện môi trường văn hóakhác nhau.

Nhân học sinh học (hay Nhân học tự nhiên) chú trọng đến mặt sinhhọc của con người như của một loài. Ngày nay Nhân học sinh học được hiểu khôngchỉ như một ngành khoa học về các hình dạng cổ xưa nhất của loài người, về sựtiến hóa của nó (còn được gọi là Nhân học khởi nguyên, Nhân học thời cổ), màthường như ngành cơ thể học, sinh lý học và hình thái học con người (nghiên cứuvề các quy luật sinh trưởng và biến đổi chung trong cấu trúc cơ thể của toànnhân lọai).

Sau Đại chiến thế giới thứ hai các nhà nghiên cứu chú ý tới phươngpháp luận phân tích cấu trúc chức năng, dẫn tới sự xuất hiện của Nhân học xãhội (Malinovski, Radcliff-Brown và những người khác). Một số học giả cho rằngsự khủng hoảng của nhân học truyền thống là do sự cộng tác chặt chẽ của các nhànhân học với chính sách thuộc địa của các nước mẫu quốc. Viễn cảnh mới củangành khoa học này nằm ở việc phân tích các phương diện hành vi xã hội của conngười ở các thể chế khác nhau. Nhân học xã hội, như các học giả phương Tây côngnhận, đến thay chỗ cho dân tộc học như một lĩnh vực trung tâm, như “trái tim”của Nhân học văn hóa. Nhân học xã hội nghiên cứu sự hình thành con người với tưcách một tạo vật xã hội, cũng như nghiên cứu các kết cấu và thiết chế chủ yếutạo điều kiện cho quá trình xã hội hóa con người cùng hàng lọat vấn đề khác.Những tư tưởng của Nhân học xã hội được Malinovski phát triển, hiểu văn hóa nhưlà tổng hòa các thiết chế phục vụ cho việc thoả mãn những nhu cầu hàng đầu(sinh lý học và tâm lý học) và hàng thứ hai – là những nhu cầu do chính văn hóasinh ra – của con người. Radcliff-Brown khẳng định rằng nhân học hiện đại lànhân học mang tính xã hội học và mang tính tổng quát về mặt chức năng, đó làkhoa học xã hội học so sánh. Nhân học xã hội chú ý tới các quá trình tương tácgiữa con người và văn hóa ở giai đọan văn minh (đó cũng là mối quan tâm tới vănhóa đô thị trong các công trình của nhà nghiên cứu Mỹ R. Redfild, phần nào thểhiện sự thâm nhập của phương pháp luận phân tích cấu trúc chức năng vào Nhânhọc văn hóa qua nỗ lực của các nhà xã hội học Durkheim, Parsons).

Vào thời gian sau chiến tranh xuất hiện cách tiếp cận văn hóa sinhthái, là sự kết hợp của “tâm lý học sinh thái”, “địa lý học sinh thái”, “địa lýhọc văn hóa”, “sinh thái học con người”. Cách tiếp cận này, được gọi tên làNhân học sinh thái, giải thích ảnh hưởng qua lại giữa môi trường tự nhiên vàvăn hóa. Đại diện của khuynh hướng này là M. Beits, G. Stiuard, M. Salins, cònở nước Nga là M.G. Levin, S.P. Tolstov, N.N. Treboksarov v.v…

Một trong những khuynh hướng chủ đạo của chủ nghĩa cấu trúc trongnhân học là Nhân học nhận thức (Gudenaf, F. Launsberi, Kh. Konkhlin, S. Bruner.v.v…) có mục đích làm bộc lộ và so sánh “các phạm trù nhận thức” ở các nềnvăn hóa khác nhau. Khuynh hướng này xuất hiện vào giữa những năm 50 tại Mỹtrong khi phát triển các phương pháp phân tích hình thức ngữ nghĩa. Nó đượcđịnh hình xong vào giữa những năm 60. Cốt lõi của Nhân học nhận thức là quanniệm về văn hóa như một hệ thống các biểu tượng, như một phương thức đặc thùcủa con người trong nhận thức, tổ chức và kết cấu hiện thực xung quanh. Trongngôn ngữ, theo ý kiến của những người ủng hộ Nhân học nhận thức, thể hiện tấtcả các phạm trù nhận thức thuộc về nền tảng của tư duy con người và tạo nên bảnchất của văn hóa. Những phạm trù đó không thuộc về tư duy con người một cáchnội tại; chúng được con người tiếp thu trong quá trình văn hóa hóa. Đối tượngchính của các nghiên cứu nhân học nhận thức là các hệ thống phân lọai và họatđộng khác nhau trong các nền văn hóa.

Từ những năm 50-60 trong giới các nhà nghiên cứu văn hóa Mỹ diễnra khuynh hướng có tên gọi là chủ nghĩa tiến hóa mới (L. White, G. Steward,E.R. Servis, M. Salins và nhiều người khác). L. White ngay từ năm 1939 đã khởixướng việc tạo dựng một khoa học đặc biệt, được gọi là văn hóa học với tư cáchmột ngành lý luận đại cương, đánh dấu sự khủng hoảng đã chín muồi của Nhân họcvăn hóa vào thời kỳ đó. Sự khác biệt của Nhân học văn hóa với Văn hóa học đượcWhite nhìn thấy ở chỗ các nhà nhân học bị khép kín trong thế giới kỳ lạ của quákhứ chưa có văn tự, như trong một chiếc hầm trú ẩn, cách xa với những vấn đềnóng bỏng của thời hiện đại. Ông hiểu Văn hóa học như là nền tảng lý luận chungvà nền tảng phương pháp luận cho các nghiên cứu nhân học, và là một khả năngmới cho giai đọan phát triển tiếp theo và hiện đại hóa của Nhân học văn hóa. Sựtiến triển của Nhân học văn hóa còn càng phức tạp thêm bởi sự xuất hiện củanhững khuynh hướng phương pháp luận thoả hiệp, gắn liền với ảnh hưởng của họcthuyết Freud đến Nhân học văn hóa Mỹ (Kardiner và trường phái Nghiên cứu vănhóa và cá nhân của ông), với cố gắng của Evans-Pritchard nhằm diễn đạt lạiphương pháp luận cấu trúc-chức năng thành các thuật ngữ về “ý nghĩa” của cácyếu tố văn hóa, và ý định của ông kết hợp nhân học với lịch sử.

Trong thời gian sau chiến tranh, bắt đầu chiếm ưu thế trong nhânhọc là các khuynh hướng chú trọng đến việc hiểu ý nghĩa của các nền văn hóa“khác” và đưa vào Nhân học các phương pháp của ngôn ngữ học (ngôn ngữ học cấutrúc của F. de Saussure, nghiên cứu nền của N. Trubetski và R. Jakobson), điđôi với việc tạo dựng trên cơ sở này các phương pháp phân tích hình thức về cáchiện tượng văn hóa đặc biệt.

Xem thêm: Bánh Canh Cá Lóc, Đặc Sản Bánh Canh Cá Lóc Hải Lăng, Bánh Canh Cá Lóc A Kay 7

Trong khoa học xuất hiện nhiều dạng khác nhau của Nhân học biểutượng (Levi Strauss, E. Leach, V. Terner v.v…). Nhân học diễn giải của Geertzlà một ví dụ về sự tổng hợp giữa Nhân học văn hóa với diễn giải học (Gadamer,Ricoeur), với triết học phân tích ngôn ngữ (G. Rail, Wittgenstein), với triếthọc các hình thái biểu tượng (S. Langer), và với nghiên cứu văn học (K. Biork).Nhân học diễn giải về phần mình ảnh hưởng đến sự hình thành các khuynh hướngnhư Nhân học phê bình văn hóa (G. Markus, M. Fiser, G.Klifford) và Dân tộc họcthực nghiệm (M. Agar, Gi. Lofland, E. Huyz), chúng dành sự chú ý đặc biệt đếnmột bình diện gây nhiều tranh cãi là kiến thức nhân học (kiến thức được diễngiải không chỉ như sự phản ánh của nhà nghiên cứu về một nền văn hóa “khác”, mànhư cuộc đối thọai giữa chúng) và tìm kiếm các phương thức mỹ từ học tươngđồng, để nhà nghiên cứu truyền đạt kinh nghiệm cá nhân về sự hiểu biết nền vănhóa khác.

See more articles in category: FAQ

Sale off:

Best post:

5 Bài Giới Thiệu Văn Hóa Việt Nam Bằng Tiếng Anh Cực Hay, Giới Thiệu Về Việt Nam Bằng Tiếng Anh (11 Mẫu)
5 Bài Giới Thiệu Văn Hóa Việt Nam Bằng Tiếng Anh Cực Hay, Giới Thiệu Về Việt Nam Bằng Tiếng Anh (11 Mẫu)
Đặc Trưng Văn Hóa Kiến Trúc Nhà Ở Của Người Việt, Văn Hóa Nhà Ở Của Người Việt
Đặc Trưng Văn Hóa Kiến Trúc Nhà Ở Của Người Việt, Văn Hóa Nhà Ở Của Người Việt
Tìm Về Phong Tục Tập Quán Của Người Sài Gòn Du Xuân, Vài Nét Sinh Hoạt Của Người Sài Gòn Xưa
Tìm Về Phong Tục Tập Quán Của Người Sài Gòn Du Xuân, Vài Nét Sinh Hoạt Của Người Sài Gòn Xưa
Văn Khấn Đền Cô Bơ Thanh Hóa ? Cô Bơ Và Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Lễ Đền Cô Bơ
Văn Khấn Đền Cô Bơ Thanh Hóa ? Cô Bơ Và Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Lễ Đền Cô Bơ
Đặc Điểm Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản, Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Đặc Điểm Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản, Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Những Đặc Điểm Văn Hóa Vùng Duyên Hải Miền Trung, Đồng Bằng Duyên Hải Miền Trung
Những Đặc Điểm Văn Hóa Vùng Duyên Hải Miền Trung, Đồng Bằng Duyên Hải Miền Trung
Vì Sao Theo Triết Lý Âm Dương Trong Phong Tục Tang Ma Của Người Việt
Vì Sao Theo Triết Lý Âm Dương Trong Phong Tục Tang Ma Của Người Việt
So Sánh Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Trung Quốc Và Văn Hóa Phương Tây
So Sánh Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Trung Quốc Và Văn Hóa Phương Tây
Tất Tần Tật Nghi Lễ Cưới Hỏi Theo Phong Tục Cưới Hỏi Ở Quảng Ngãi
Tất Tần Tật Nghi Lễ Cưới Hỏi Theo Phong Tục Cưới Hỏi Ở Quảng Ngãi
Top 32 Cảnh Đẹp Ở Đà Lạt Bạn Không Nên Bỏ Lỡ, Top 20 Địa Điểm Du Lịch Đà Lạt Đẹp Nhất Năm 2021
Top 32 Cảnh Đẹp Ở Đà Lạt Bạn Không Nên Bỏ Lỡ, Top 20 Địa Điểm Du Lịch Đà Lạt Đẹp Nhất Năm 2021
Đặc Trưng Lò Pizza Truyền Thống Ý, Các Loại Lò Nướng Pizza
Đặc Trưng Lò Pizza Truyền Thống Ý, Các Loại Lò Nướng Pizza
Nêu Đặc Điểm Của Ngành Công Nghiệp Sản Xuất Hàng Tiêu Dùng, Công Nghiệp Sản Xuất Hàng Tiêu Dùng
Nêu Đặc Điểm Của Ngành Công Nghiệp Sản Xuất Hàng Tiêu Dùng, Công Nghiệp Sản Xuất Hàng Tiêu Dùng
10+ Đoạn Hội Thoại Tiếng Anh Về Lễ Hội Bằng Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
10+ Đoạn Hội Thoại Tiếng Anh Về Lễ Hội Bằng Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
Văn Hóa Tiêu Dùng Của Người Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Ở Việt Nam
Văn Hóa Tiêu Dùng Của Người Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Ở Việt Nam
Bài Tập Tình Huống Văn Hóa Doanh Nghiệp Có Lời Giải, Bài Tập Lớn Vhdn
Bài Tập Tình Huống Văn Hóa Doanh Nghiệp Có Lời Giải, Bài Tập Lớn Vhdn

Categories