Mô Hình Kinh Tế Truyền Thống

PGS., TS. Nguyễn Văn Phúc - Trường Đại học Yersin; Nguyễn Thu Hà - Viện Kinh tế - Xã hội và Công nghệ

Kinh tế tuần hoàn là mô hình tổ chức, vận hành kinh tế cho phép nâng cao tính bền vững, hiệu quả của tăng trưởng kinh tế, khi tiến bộ khoa học đạt tới trình độ cao, nhưng tài nguyên ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm môi trường gia tăng, trong khi, nhu cầu của con người và xã hội lớn.


Những yếu tố cấu thành mô hình kinh tế này đã xuất hiện ở nền kinh tế truyền thống các nước, trong đó có Việt Nam. Sức ép và những thách thức từ nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội đòi hỏi Việt Nam phải sớm chuyển đổi mô hình kinh tế truyền thống sang mô hình kinh tế tuần hoàn một cách chủ động với những bước đi thích hợp.

Bạn đang xem: Mô hình kinh tế truyền thống

Bản chất của nền kinh tế tuần hoàn

Phát triển bền vững đã trở thành một yêu cầu khách quan đối với sự phát triển kinh tế-xã hội trên phạm vi toàn cầu. Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đề ra mục tiêu “Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”. Quá trình công nghiệp hóa là một trong những yếu tố thúc đẩy phương thức phát triển truyền thống sang phát triển bền vững. Xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn (KTTH) chính là thực hiện sự chuyển hóa này.

KTTH là “một nền kinh tế không có chất thải”, hay “một hệ thống có tính tái tạo và khôi phục thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của nó”.

Potting và cộng sự cho rằng, nền KTTH là một hệ thống gồm các thành tố (9R): Refuse (R0 - Giảm bớt công năng dưa thừa ở sản phẩm hoặc gắn một công năng cho những sản phẩm rất khác nhau); Rethink (R1- Thay đổi tư duy về việc sử dụng sản phẩm); Reduce (R2 - Giảm thiểu chi phí khi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm); Re-use (R3 - Chuyển vật dụng còn dùng được cho người khác sử dụng khi người sử dụng ban đầu không cần dùng tới, hoặc phục hồi lại công dụng của một sản phẩm sau một giai đoạn sử dụng); Repair (R4 - Sửa chữa, bảo trì sản phẩm để nó có thể được sử dụng như ban đầu); Refurbish (R5 - Bảo quản và nâng cấp sản phẩm để sử dụng); Remanufacture (R6 - Sử dụng những cấu kiện, chi tiết còn dùng được ở những sản phẩm hỏng để sản xuất sản phẩm mới có cùng công dụng); Repurpose (R7 - Sử dụng sản phẩm hỏng hoặc những bộ phận, chi tiết của nó để sản xuất những sản phẩm có công dụng khác hẳn); Recycle (R8 - Chế biến lại vật tư để sản xuất sản phẩm mới; Recover (R9 - Tiêu hủy nguyên liệu có thu hồi năng lượng).

Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Trọng Hạnh cho rằng, nền KTTH vận hành trên cơ sở 3 nguyên tắc căn bản, đó là “Bảo tồn và phát triển vốn tự nhiên thông qua việc kiểm soát, nhằm sử dụng hợp lý các tài nguyên và tái tạo các hệ thống tự nhiên; đặc biệt là đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo; Tối ưu hóa lợi tức của tài nguyên bằng cách tuần hoàn các sản phẩm và vật liệu nhiều nhất có thể trong các chu trình kỹ thuật và sinh học và nâng cao hiệu suất chung của toàn hệ thống bằng cách tối thiểu hóa các ngoại ứng tiêu cực, thông qua thiết kế chất thải, thiết kế ô nhiễm ngay từ đầu của quá trình sản xuất”.

*

Bùi Văn Huyền, Nguyễn Ngọc Toàn xác định 3 nội dung cốt lõi của KTTH là “Giảm thiểu phát thải ra môi trường thông qua sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguyên liệu, năng lượng và sử dụng nguyên liệu, năng lượng có khả năng tái tạo; Tái sử dụng, sửa chữa, bảo dưỡng kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm; Tái chế, tận dụng phế liệu, phế thải trở thành đầu vào sản xuất”.

Như vậy, KTTH là một nền kinh tế mà trong đó các yếu tố vật chất được đưa vào phục vụ đời sống của con người được tái sử dụng một cách có hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội. Tiêu chí đặt ra đối với việc xây dựng và lựa chọn các phương án phát triển KTTH là đảm bảo được hiệu quả kinh tế tổng hợp từ việc sản xuất, tiêu dùng và tái chế các sản phẩm đạt mức tối ưu.

Điều kiện hình thành, phát triển nền kinh tế tuần hoàn

Trong mọi nền kinh tế, ở mọi thời kỳ, luôn có những yếu tố, bộ phận riêng rẽ của nền KTTH tồn tại. Việc chuyển hóa từ nền kinh tế truyền thống sang nền KTTH ở quy mô ngày càng lớn, mức độ ngày càng cao đã diễn ra như một xu hướng khách quan. Trên thực tế, KTTH đã chuyển từ mô hình thành thực tế với những mức độ khác nhau và có những tác động khá khác biệt tới sự phát triển kinh tế-xã hội ở các nước trên thế giới.

Lý thuyết và kinh nghiệm thực tế của các nước đã triển khai mô hình nền KTTH cho thấy, nền kinh tế này tồn tại và phát triển trên những điều kiện sau:


Một là, xã hội, đặc biệt là tầng lớp lãnh đạo xã hội và lực lượng chủ đạo của nền kinh tế nhận thức được sự cần thiết của việc chuyển đổi nền kinh tế truyền thống sang nền KTTH. Nhận thức đúng bản chất, các quy luật hình thành và phát triển để có những chiến lược và giải pháp thực hiện sự chuyển đổi phù hợp. Nếu thiếu sự nhận thức chủ quan này, các yếu tố của nền KTTH có thể xuất hiện, thậm chí tồn tại khá lâu, ở nhiều bộ phận, nhưng khó có thể liên kết với nhau để hình thành một nền kinh tế vận động hoàn toàn và bền vững theo mô hình KTTH.

Xem thêm: Các Món Ăn Truyền Thống Thái Lan Ngon Quên Lối Về Ở Bangkok, Công Thức 10 Món Ăn Truyền Thống Thái Lan

Hai là, mục tiêu, định hướng, chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế nói chung và phát triển KTTH nói riêng. Tính chất, phạm vi và quy mô của yếu tố “tuần hoàn” trong nền kinh tế của một quốc gia liên tục biến động, có thể theo cùng một chiều hướng hoặc theo những chiều hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, phụ thuộc vào lợi ích và nguồn lực của các chủ thể liên quan tới sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế truyền thống sang mô hình KTTH.

Để giảm thiểu sự trái chiều của các xu hướng vận động và giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng đến sự hình thành và phát triển của nền KTTH, Nhà nước cần xác định rõ định hướng, mục tiêu đặt ra có tính khả thi. Những bất hợp lý trong lựa chọn định hướng, sự nóng vội hoặc rụt rè, chậm trễ trong việc lựa chọn các mục tiêu cho từng giai đoạn của quá trình chuyển đổi sang mô hình KTTH đều có tác động tiêu cực, dù mức độ và tác động của chúng có thể khác nhau.

Ba là, cấu trúc hiện tại của nền kinh tế và khả năng tái cấu trúc của nó. Mọi nền kinh tế luôn có một “sức ỳ”. Điều này không chỉ tồn tại ở phía sản xuất, mà cả ở phía tiêu dùng. Quy mô nền kinh tế càng lớn, cấu trúc hiện tại của nền kinh tế truyền thống càng hợp lý, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế truyền thống càng chặt chẽ thì sức ỳ này càng lớn, càng khó khởi động quá trình chuyển đổi. Tuy nhiên, năng lực đổi mới của nền kinh tế càng lớn, sự cạnh tranh càng khốc liệt, các nguồn lực có thể huy động để phát triển ngày càng nhiều, tiềm lực khoa học- công nghệ và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ càng lớn thì sau khi đã được khởi động, quá trình chuyển đổi càng được thúc đẩy mạnh mẽ.

Bốn là, năng lực của hệ thống kinh tế truyền thống, đặc biệt là năng lực nghiên cứu, thiết kế, đưa vào sử dụng những sản phẩm cho phép tái sử dụng, tái chế được; ứng dụng và thích ứng hóa những công nghệ cho phép sử dụng, tái chế, chế biến lại những sản phẩm đã qua sử dụng và phế liệu từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng.

Vị thế của nền kinh tế tuần hoàn trong phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam

Ở Việt Nam, có nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của nền KTTH như: Thứ nhất, Việt Nam duy trì được sự phát triển kinh tế liên tục với tốc độ khá cao, duy trì được động lực kinh doanh để đảm bảo tính năng động của nền kinh tế, trong đó các hoạt động đổi mới sáng tạo và các hoạt động khởi nghiệp đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính nhờ những hoạt động sôi nổi này mà trong thời gian qua, các hoạt động tái chế phế liệu, sử dụng lại vật liệu cũ, sử dụng lại những sản phẩm cũ cho những mục đích mới… được mở rộng, tạo ra một lĩnh vực kinh doanh đem lại hiệu quả cao, được nhiều người theo đuổi.

Thứ hai, Việt Nam đang đối mặt với sức ép về sự suy giảm tài nguyên và gia tăng chất thải. Trong 10 năm qua, nhu cầu đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất đã tăng mạnh khiến Việt Nam phải nhập khẩu nhiều dầu thô, sắt thép, kim loại, chất dẻo nguyên liệu, phụ liệu cho ngành công nghiệp, tạo việc làm và gia tăng ngoại tệ cho đất nước. Cũng trong 10 năm qua, lượng chất thải từ nền kinh tế Việt Nam đã tăng bình quân 10%/năm, nhất là chất thải rắn của khu vực đô thị và ô nhiễm do sử dụng hóa chất ngày càng tăng trong nông nghiệp.

Theo số liệu thống kê, năm 2016, lượng chất thải rắn đô thị đã là 11,6 triệu tấn, tương đương với mức 0,33 kg/người và có thể tăng gấp đôi trong vòng 30 năm tới. Theo Báo cáo thực trạng môi trường Việt Nam, năm 2019, chỉ riêng chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam đã là 64.658 tấn/ngày (khoảng 0,672kg/người), tăng 46% so với năm 2010. Trong số đó, chỉ mới có khoảng 16% chất thải rắn sinh hoạt của Việt Nam được tái chế thành phân bón sinh học và đốt để phát điện, nhưng số lượng không đáng kể. Nhìn chung, trong giai đoạn từ 1996- 2019, công nghiệp tái chế của Việt Nam đã có sự phát triển, trong đó có những năm tốc độ tăng trưởng của Ngành khá cao (năm 1996 đạt xấp xỉ 40%, năm 2008 tăng hơn 30%). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ tăng của khu vực kinh tế này đã chậm lại (Hình 1). Có những năm đã đạt tốc độ tăng trưởng chỉ đạt trên 1% tổng giá trị sản xuất của công nghiệp (năm 2010, chỉ số này chỉ là 0,278%).

Thứ ba, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại của Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức, trong đó dư địa phát triển ở nhiều mặt đã gần đạt tới mức độ giới hạn. Nhiều lợi thế truyền thống của Việt Nam đã không còn là lợi thế vượt trội so với khu vực nữa. KTTH là một mô hình chuyển đổi mà Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng có thể lựa chọn.