PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở BÌNH ĐỊNH

Bình Định có một mạch nguồn văn hóa rất xa xưa từ nền văn hóa Sa Huỳnh - Truông Xe. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa Bình Định vừa lan tỏa, vừa tiếp nhận những giá trị của nền văn hóa khác để bồi đắp, làm phong phú cho mình.

Bạn đang xem: Phong tục tập quán ở bình định


*
Anh 6 Cau Thi Nai Binh Dinh 1

2.1. Lược sử hình thành và phát triển

Bình Định có một mạch nguồn văn hóa rất xa xưa từ nền văn hóa Sa Huỳnh - Truông Xe. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa Bình Định vừa lan tỏa, vừa tiếp nhận những giá trị của nền văn hóa khác để bồi đắp, làm phong phú cho mình.

Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó người Chăm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này. Đến đời nhà Tần xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam. Năm 192, một người trong quận Nhật Nam là Khu Liên đã nổi dậy, đánh đuổi qian cai trị người Hán, giành chính quyền, lập ra nước Lâm Ấp (Linyi), tự xưng là Lâm Ấp vương. Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp. Đời nhà Đường, năm 627 đổi tên là Lâm Châu. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn, Thị Nại.

Đời nhà Lê năm Hồng Đức thứ 2 (1471) vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, tiến đến tận núi Thạch Bi, chiếm đất này, và chia thành 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn, nhập vào phủ Hoài Nhơn thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1602 chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam. Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn. Từ 1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này Nguyễn Ánh đổi tên đất này là dinh Bình Định, năm 1808 đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định Năm 1832, Bình Định và Phú Yên thành liên tỉnh Bình Phú, sau đó bỏ liên tỉnh này.

Năm 1890, thực dân Pháp sáp nhập thêm Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú. Năm 1913, thực dân Pháp lại sáp nhập Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú và thành lập tỉnh Kon Tum làm tỉnh riêng. Năm 1921, thực dân Pháp cắt tỉnh Phú Yên ra khỏi tỉnh Bình Định. Tỉnh Bình Định tồn tại cho đến tháng 11.1975 thì sáp nhập với tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình. Năm 1989, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII đã quyết định tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi như cũ.

2.2. Nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa

2.2.1. Nhân vật lịch sử

- Nguyễn Huệ (1753 - 1792): Là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792) sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào. Do có nhiều công lao, Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía nam, lật đổ hai tập đoàn này cùng nhà Hậu Lê. Ngoài ra, Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía Nam, của Đại Thanh (Trung Quốc) từ phía bắc; đồng thời còn là người đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ xây dựng Đại Việt. Sau 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ lâm bệnh và đột ngột qua đời ở tuổi 40.

Xem thêm: Khóa Học Kỹ Năng Giao Tiếp Nhà Văn Hóa Thanh Niên, Nghệ Thuật Giao Tiếp

- Mai Xuân Thưởng: Sinh năm 1860, quê ở xã Bình Thành, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, đỗ cử nhân, giỏi võ, có tinh thần yêu nước căm thù giặc. Năm 1855, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông cùng với các sĩ phu khác chiêu mộ nghĩa quân và đã tiêu diệt nhiều binh lính của địch. Giặc Pháp nhiều lần gửi thư dụ hàng cho Mai Xuân Thưởng nhưng không lay chuyển được ý chí của ông. Bọn giặc đã bắt bà mẹ ông cùng một số nười trong làng. Được tin này, ông đã ra gặp bọn chúng để tránh cho mẹ ông và dân làng khỏi chịu khổ nhục. Giặc dụ ông hàng, ông nói: "Chỉ có thể chém đầu tôi, chứ không thể bắt tôi đầu hàng". Ngày 6.6.1887, bọn giặc đã xử tử Mai Xuân Thưởng, lúc đó ông mới 27 tuổi.

- Tăng Bạt Hổ (1859 - 1906): Quê ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Tham gia phong trào Cần Vương, năm 1886, phong trào tan rã, ông tìm đường sang Xiêm (Thái Lan), Trung Quốc, Nhật để lo việc cứu nước. Việc không thành trở về nước chờ thời. Năm 1905, ông tích cực hưởng ứng phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, rồi dẫn đường cho Phan Bội Châu sang Hương Cảng và Nhật. Sau ông trở về nước tích cực hoạt động cho phong trào, song bị bệnh nặng và mất tại Huế.

- Ngô Mây: Người anh hùng đánh bom cảm tử, là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, đặc biệt đối với người dân Bình Định. Ngô Mây sinh năm 1924, quê ở xã Cát Khánh, huyện Phù Cát. Nhà nghèo, cha mất sớm, năm 1945 Ngô Mây cùng tham gia cướp chính quyền ở huyện lỵ. Tháng 7.1947, Ngô Mây từ biệt mẹ già nhập ngũ. Anh xung phong vào Tiểu đoàn 120, Đại đoàn 305. Ngô Mây hy sinh năm 1947. Tên của anh đã được đặt cho nhiều địa danh: Thị trấn Ngô Mây (Phù cát), phường Ngô Mây, đường Ngô Mây, trường THCS Ngô Mây (thành phố Quy Nhơn)…

2.2.2. Danh nhân văn hóa

- Ðào Tấn (1845 - 1907): Tự là Chí Thúc, hiệu Mai Táng và Mộng Mai. Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Vinh Thạnh, Tuy Phước, Bình Ðịnh. Ðào Tấn là học trò của Tú tài Nguyễn Diêu, một nhà soạn tuồng nổi tiếng. Noi gương và chịu trực tiếp ảnh hưởng của thầy, Ðào Tấn học tập viết tuồng hồi còn rất trẻ. Năm 22 tuổi, ông đậu cử nhân, 26 tuổi làm Hiệu thư trong Nội các Huế, chuyên soạn thảo kịch bản tuồng cho Hoàng gia theo lệnh Tự Ðức. Năm 1874, ông được bổ nhiệm tri phủ Quảng Trạch, sau thăng đến Phủ doãn Thừa Thiên (1878). Vừa làm quan ông vừa phụng chỉ soạn các vở tuồng. Vua Tự Ðức mất, ông cáo quan về nghỉ, nhưng rồi lại được gọi ra làm quan. Sau, ông đã ngấm ngầm giúp đỡ Phan Bội Châu chống Pháp. Năm 1907, ông lâm bệnh nặng và mất, thọ 62 tuổi. Hoạt động văn học nghệ thuật của Ðào Tấn hết sức phong phú, đa dạng. Ông để lại vài chục vở tuồng, có vở còn diễn đến bây giờ như Tam nữ đồ vương, Sơn Hậu, Ðào Phi Phụng. Trong lịch sử tuồng Việt Nam, Ðào Tấn là người viết nhiều nhất và cũng là người thành công nhất. Ngoài tuồng, ông còn sáng tác thơ văn. Tại Bình Ðịnh, người ta lập đền thờ ông, xem ông là ông tổ của ngành hát bội.

- Xuân Diệu (1916 - 1985): Là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với các tậpThơ thơGửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốnThi nhân Việt Nam(1942). Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học.

- Yến Lan (1916 - 1998): Tên thật là Lâm Thanh Lang, là một nhà thơ, nhà viết kịch Việt Nam. Ông còn có bút danh khác là Xuân Khải. Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn hợp thànhBàn thành tứ hữu(bốn người bạn thơ đất Bình Định) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó. Trong giai đoạn này, ông cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng tác theo trường phái Thơ loạn (còn gọi là Thơ điên) với những trăng, xương, máu, hồn ma... trong thơ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên văn hóa Cứu quốc Bình Định (1947 - 1949); là Ủy viên văn hóa kháng chiến Nam Trung bộ, trưởng đoàn kịch Kháng chiến. Từ 1950 đến 1954 ông làm công tác văn hóa văn nghệ ở Bình Định. Sau 1954, Yến Lan tập kết ra Bắc, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, làm việc tại Nhà xuất bản Văn học và tham gia phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, ông trở về công tác tại Hội văn nghệ Bình Định và mất tại đây ngày 5 tháng 10 năm 1998. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.